Trang chủ Đời sống - Tiêu dùng Những nhà khoa học gắn bó cả cuộc đời để nghiên cứu...

Những nhà khoa học gắn bó cả cuộc đời để nghiên cứu về giống cây chè mới

ĐT24H - Cả cuộc đời cống hiến với việc nghiên cứu giống cây chè mới tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè thuộc Viện khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc – Viện NOMAFSI ở xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Say mê nghiên cứu các loại cây trồng gắn bó với đời sống miền quê nên bà con nông dân thường gọi là những “nhà khoa học chè” của nông dân.

Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương tới thăm Viện khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc.

Cái nôi của những giống chè

PGS. TS Nguyễn Văn Toàn nguyên là Viện trưởng Viện NOMAFSI – là “pho sử” về lịch sử phát triển của cây chè nói chung và các giống chè nói riêng. Sau khi gắn bó gần 40 năm với Viện, về hưu PGS Toàn trở thành nghiên cứu viên cao cấp về cây chè.

Phú Thọ xưa kia là vùng đất trù phú được thiên nhiên ban tặng cho những đặc tính thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp cho cây chè phát triển. Ngay từ cuối những năm 1880, người Pháp đã khảo sát và sản xuất chè ở Phú Thọ. Những đồn điền trồng chè đầu tiên của cả nước cũng xuất hiện ngay sau đó tại khu vực vùng giữa sông Đà và sông Hồng thuộc địa phận xã Tình Cương, huyện Cẩm Khê ngày nay.

Trải qua hơn 100 năm thành lập, với nhiều lần thay tên, mở rộng lĩnh vực nghiên cứu, tới nay Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ) vẫn liên tục được kế thừa và phát triển; nhiều giống cây mới được nghiên cứu, khảo cứu, phục tráng được triển khai gieo trồng khá hiệu quả cho bà con nông dân.

Nổi bật trong việc gà đẻ trứng vàng của Viện, chính là sản phẩm những giống chè. 100% các giống chè trên cả nước đều do Viện nghiên cứu và chuyển giao, Viện cũng là đơn vị đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thưc vật, sinh hóa và chế biến nhằm chuyển giao hiệu quả cho bà con.

Các nhà khoa học chè công tác nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè thuộc Viện khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc giành cả cuộc đời gắn bó nghiên cứu giống cây chè mới.

Tới nay, đã có tới 173 giống chè trong thư viện giống của Viện; nhiều giống chè mới đã được công nhận tạm thời và chính thức như: LDP1, LDP2, Hùng Đinh Bạch, Keo An Tích, Phúc Vân Tiên, PT95, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Bát Tiên… được bà con nông dân và chính quyền các địa phương tin tưởng áp dụng, đã có 60% diện tích trồng chè được đưa giống mới vào thay thế.

Là một trong những cơ sở nghiên cứu hàng đầu về lĩnh vực nông lâm nghiệp của đất nước, NOMAFSI đã và đang đóng góp rất lớn vào quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, tái cơ cấu cây trồng của cả nước, góp phần giúp bà con nông dân mang lại hiệu quả kinh tế ngày một cao hơn trong sản xuất nông lâm nghiệp.

Ngọn lửa đam mê nghiên cứu khoa học

TS. Nguyễn Ngọc Bình – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc cho biết: “Trung tâm có nhiệm vụ xây dựng đề tài dự án, kế hoạch nghiên cứu khoa học, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật dài hạn và hàng năm phục vụ sản xuất phát triển, trình Viện và cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện. Điều tra, thu thập, bảo tồn, phát triển vườn quỹ gen về chè, nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm và phát triển giống chè phục vụ yêu cầu sản xuất, phát triển chè ở Việt Nam”.

Theo TS. Nguyễn Ngọc Bình, việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, trong đó, nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học, các biện pháp kỹ thuật (canh tác, phân bón, bảo vệ thực vật…). Xây dựng mô hình thâm canh tăng năng suất, chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất chè, phối hợp nghiên cứu thiết bị, công nghệ chế biến sản phẩm và thị trường chè.

Tổ chức thực hiện nhiệm vụ khuyến nông về chè. Phối hợp xây dựng và tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp tác chuyên gia và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển chè. Sản xuất giống chè, nguyên liệu chè và các loại mẫu sản phẩm của giống chè mới, xây dựng và quản lý bảo tàng chè Việt Nam.

Các giống chè chọn lọc tại Viện được trồng để thử nghiệm nghiên cứu về chất lượng sản phẩm.

TS. Nguyễn Thị Minh Phương – Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Chè, Viện NOMAFSI  bà  là “Mẹ đẻ” của nhiều giống chè mới, bao gồm cả PH8, PH9, Hương Bắc Sơn… và VN15 tâm sự: “Để nghiên cứu được một giống chè mới, trồng khảo nghiệm, xem xét thực tế về khả năng sinh trưởng và đặc điểm thích ứng… có hàng trăm bước phải được thực hiện chính xác, hàng ngàn dữ liệu phải được ghi chép, lưu giữ, đối chiếu cụ thể. Không chỉ sáng tạo giống mới, nhiệm vụ của các nhà khoa học còn phải tìm được cách thức gieo trồng đảm bảo kĩ thuật, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Vì vậy, mỗi giống chè mới “ra đời” là thành quả sáng tạo, lao động bền bỉ kéo dài hàng chục năm của một tập thể”.

Thành quả, sau hàng chục năm nghiên cứu đã có nhiều giống chè mới được chọn, tạo tại Viện như TRI 5.0, PH8, PH9, VN15… đã được được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và được nhân giống rộng rãi. Hiện nay, có tới khoảng 70% diện tích chè trên cả nước là các giống mới được chọn, tạo chính từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè của Viện NOMAFSI.

Sản phẩm chè chất lượng cao được giới thiệu tới người tiêu dùng của Viện khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc.

PGS. TS Trịnh Văn Loan – một trong những “cánh chim đầu đàn” về công nghệ sinh hoá chè, đánh giá chất lượng giống chè của Viện NOMAFSI cho biết thổ nhưỡng của Phú Thọ vốn thích hợp để trồng các giống chè đen. Hiện nay, gần 70% diện tích chè  được trồng trên toàn tỉnh là chè đen. Để bắt kịp xu thế phát triển của thị trường, Phú Thọ cần nâng cao tỉ trọng diện trích chè xanh, chọn trồng các giống chất lượng cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng. Đây là yếu tố tiên quyết góp phần xây dựng và phát triển thương hiệu chè xanh Phú Thọ trong tương lai.

Tin tưởng rằng, với tâm huyết về nghiên cứu khoa học kỹ thuật và tinh thần trách nhiệm với Đảng và Nhà nước của đội ngũ cán bộ, giáo sư, kỹ sư của Viện, thời gian tới những hạt giống vàng sẽ tiếp tục được sinh ra, làm đa dạng hơn thư viện giống cây trồng của nước nhà./.

Sơn Thủy

RELATED ARTICLES

“Đậm đà bánh sắn Đất Tổ” – Thứ quà quê dân dã

Bánh sắn là thứ quà quê dân dã mọi người nhớ mãi khi về vùng Đất Tổ. Cho đến vài năm trở lại đây, món...

Fìn Hồ Trà – Đặc sản vùng đất Phìn Hồ

“Minh chứng sống” cho cây chè Shan tuyết ở Phìn Hồ Cụ là Triệu Mùi Nghính - gương mặt “đại diện thương hiệu” của các...

Hải Phòng: Giống gà quý hiếm ở Cát Bà cần có phương án bảo tồn

Những con gà có bộ lông vàng óng, đôi chân dài tới 30cm vô cùng bắt mắt, ai nhìn cũng phải thốt lên và...

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

- Advertisment -

Most Popular

Bí ẩn loại trà quý hiếm đắt nhất hành tinh, giá gần 13 tỷ đồng/kg có gì đặc biệt?

Trà Phổ Nhĩ là một trong những loại trà đắt đỏ nhất hiện nay. Các loại trà quý hiếm từ lâu đã có giá cao...

“Đậm đà bánh sắn Đất Tổ” – Thứ quà quê dân dã

Bánh sắn là thứ quà quê dân dã mọi người nhớ mãi khi về vùng Đất Tổ. Cho đến vài năm trở lại đây, món...

Fìn Hồ Trà – Đặc sản vùng đất Phìn Hồ

“Minh chứng sống” cho cây chè Shan tuyết ở Phìn Hồ Cụ là Triệu Mùi Nghính - gương mặt “đại diện thương hiệu” của các...

Hải Phòng: Giống gà quý hiếm ở Cát Bà cần có phương án bảo tồn

Những con gà có bộ lông vàng óng, đôi chân dài tới 30cm vô cùng bắt mắt, ai nhìn cũng phải thốt lên và...

Recent Comments